Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam

Những năm gần đây, số vụ khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam đang diễn biến phức tạp. Theo Báo cáo của Chính phủ, trong năm 2020 cả nước vẫn có tới 296.864 vụ việc, với 459.149 lượt công dân đến cơ quan hành chính nhà nước khiếu nại, tố cáo. Nội dung các vụ khiếu nại, tố cáo chủ yếu liên quan đến đất đai, đền bù, giải phóng mặt bằng. Thực tế, hầu hết các vụ khiếu nại, tố cáo được giải quyết đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, qua đó góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào bộ máy nhà nước, giúp ổn định tình hình an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo thời gian qua vẫn còn những hạn chế, bất cập; nhiều vụ việc chưa được giải quyết hợp lý, gây tâm lý bức xúc cho người dân; có vụ việc đã được giải quyết nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại, tố cáo, thậm chí là khiếu nại đông người, vượt cấp, trở thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự…

Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: Nhận thức của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo còn hạn chế; vẫn còn tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm giữa các cấp, các ngành; còn nhiều sơ hở, thiếu sót, bất cập trong chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là pháp luật về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo; sai phạm, thiếu sót của một bộ phận cán bộ thực thi pháp luật… Trong đó, nguyên nhân do sai phạm, thiếu sót của một bộ phận cán bộ thực thi pháp luật cần được các cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm. Vấn đề này đã được người đứng đầu bộ máy hành chính nước ta thừa nhận: “Có trường hợp khi rà soát (các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài) thấy người tiền nhiệm giải quyết chưa đúng, chưa phù hợp nhưng né tránh đùn đẩy, không mạnh dạn sửa sai, giải quyết lại”, “Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền còn chậm, có nhiều sai sót, nhất là ở cấp cơ sở”. Điều này cho thấy đã có xung đột lợi ích trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, dẫn đến những quyết định, hành động được đưa ra không chính xác. Như vậy, xung đột lợi ích trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo là tình huống mà ở đó các chủ thể có thẩm quyền đưa ra một quyết định, hành động có khả năng hoặc bị tác động một cách tiêu cực bởi các lợi ích cá nhân của họ, làm ảnh hưởng tới tính đúng đắn của quyết định, hành động được đưa ra. Những tình huống xung đột lợi ích nếu không được nhận diện, kiểm soát đúng đắn sẽ gây tổn hại đến giá trị liêm chính của hoạt động công vụ nói chung, hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo nói riêng. Kiểm soát hiệu quả xung đột lợi ích trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo sẽ góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước và phòng, chống tham nhũng; đảm bảo được tính liêm chính, công bằng trong các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước, từ đó củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Nhà nước, cán bộ thực thi nhiệm vụ.

Để có cơ sở kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, Nhà nước đã xây dựng, ban hành nhiều văn bản, quy định pháp luật có liên quan, trong đóquy định về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ như: Hiến pháp năm 2013; Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2005 (sửa đổi năm 2007, 2012), năm 2018; Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật PCTN; Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); Luật Đấu thầu năm 2013; Luật Thanh tra năm 2010; Luật Doanh nghiệp năm 2014; Luật Kiểm toán năm 2014; Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/07/2013 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập; Quyết định số 64/2007/QĐ-TTg ngày 10/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về việc tặng quà, nhận quà tặng và nộp lại quà tặng của cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức... Những quy định pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ đóng vai trò là nền tảng pháp lý để kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Bên cạnh đó, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2018, Thông tư số 05/2011/TT-TTCP ngày 10/01/2011 của Thanh tra Chính phủ quy định về PCTN trong ngành Thanh tra; Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Thông tư số 01/2021/TT-TTCP ngày 11/3/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong ngành Thanh tra và cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân là những văn bản liên quan đến việc kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo. Cụ thể:

Luật Khiếu nại năm 2011 có đề cập về: Nguyên tắc khiếu nại và giải quyết khiếu nại (Điều 4); trách nhiệm giải quyết khiếu nại và phối hợp giải quyết khiếu nại (Điều 5); các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 6); quyền, nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại lần đầu (Điều 14); xác minh nội dung khiếu nại (Điều 29). Trong đó, Điều 4 quy định: “Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại phải được thực hiện theo quy định của pháp luật; bảo đảm khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời” thể hiện rõ nguyên tắc khách quan khi giải quyết khiếu nại. Nguyên tắc này sau đó được quy định chi tiết hơn tại Điều 3 Thông tư số 07/2013/TT-TTCP: “Việc giải quyết khiếu nại phải bảo đảm chính xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời và đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn theo quy định của pháp luật; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân”.

Luật Tố cáo năm 2018 có quy định về nguyên tắc giải quyết tố cáo (Điều 4); trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo (Điều 5); trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc giải quyết tố cáo (Điều 6); các hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo và giải quyết tố cáo (Điều 8); quyền và nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo (Điều 11). Cũng giống nguyên tắc giải quyết khiếu nại, Điều 4 Luật Tố cáo năm 2018 quy định: “Việc giải quyết tố cáo phải kịp thời, chính xác, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định của pháp luật”.

Thông tư số 05/2011/TT-TTCP có những quy định về việc “công khai, minh bạch trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo (Điều 10), “các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo” (Điều 12). Thông tư số 01/2021/TT-TTCP có đề cập nguyên tắc ứng xử trong thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo của cán bộ, công chức, viên chức ngành Thanh tra (Điều 12), trong đó nêu rõ những việc cán bộ, công chức, viên chức ngành Thanh tra phải làm và những việc không được làm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Những quy định nêu trên đã góp phần quan trọng vào phòng ngừa, phát hiện, xử lý xung đột lợi ích trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo thời gian qua. Tuy nhiên, thực tế hệ thống pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ nói chung, hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo nói riêng vẫn còn những điểm trống cần bổ sung, hoàn thiện, như: Xung đột lợi ích đã được đề cập trong một số đạo luật còn rời rạc, tản mát, nhiều quy định thiếu cụ thể, rõ ràng và tính khả thi thấp; nhiều khía cạnh lý luận, pháp lý, thực tiễn về xung đột lợi ích trong giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết thấu đáo. Pháp luật về khiếu nại, tố cáo còn trống những quy định về nhận diện các tình huống xung đột lợi ích, kiểm soát xung đột lợi ích; về trách nhiệm tự phát hiện xung đột lợi ích của những chủ thể đặc biệt trong giải quyết khiếu nại, tố cáo (như người có thẩm quyền giải quyết, người xác minh nội dung); về thẩm quyền, cách thức, chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo…

Thời gian tới, tình hình khiếu nại, tố cáo được dự báo sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp. Để góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao hiệu quả kiểm soát xung đột lợi ích trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, thiết nghĩ cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, xem xét mở rộng nội hàm khái niệm xung đột lợi ích. Quy định về “xung đột lợi ích” trong Luật PCTN năm 2018 có nội hàm tương đối hẹp, mới chỉ chú trọng đến chủ thể là cá nhân, cán bộ, công chức, viên chức. Thực tế, phạm vi các đối tượng cần phải điều chỉnh và bị ràng buộc nên mở rộng hơn ra các đối tượng thân quen khác của cán bộ, công chức, viên chức bao gồm vợ/chồng, con đẻ, con nuôi, anh, chị, em ruột, bố/mẹ đẻ, bố/ mẹ nuôi (tức các quan hệ hôn nhân, gia đình). Việc mở rộng như vậy sẽ giúp phát hiện và xử lý các tình huống xung đột lợi ích mà cán bộ, công chức, viên chức mượn các quan hệ thân quen để “che đậy”.

Hai là, rà soát, bổ sung những quy định về hạn chế lợi ích cá nhân đối với cán bộ, công chức, viên chức nói chung và cán bộ có thẩm quyền trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo nói riêng. Hướng tiếp cận của vấn đề này không phải bằng những kiểm soát quá nghiêm ngặt, triệt tiêu mọi lợi ích của cán bộ, công chức, viên chức mà cần tiếp cận theo hướng: Xác định các rủi ro đe dọa sự liêm chính của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức; cấm các hình thức xung đột lợi ích cụ thể; nâng cao nhận thức cho các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức về những tình huống xung đột lợi ích; có quy trình xác định, công bố và xử lí các tình huống xung đột lợi ích…

Ba là, bổ sung, hoàn thiện các quy định cụ thể trong Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2018 theo hướng:

Cần có quy định cụ thể về xung đột lợi ích trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo với các nội dung như: Khái niệm; trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan, tổ chức trong việc phát hiện và tự phát hiện xung đột lợi ích; trách nhiệm của xã hội trong việc phát hiện xung đột lợi ích; quy trình xử lý xung đột lợi ích; các biện pháp xử lí và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nếu không xử lý…

Bổ sung các quy định hướng dẫn về quy trình xử lý xung đột lợi ích trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo; cơ chế xử lý, chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về kiểm soát xung đột lợi ích trong giải quyết khiếu nại, tố cáo; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Mặt khác, xem xét xây dựng các quy định tạo cơ sở pháp luật cho lộ trình tiến tới thành lập cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu nại, tố cáo tập trung. Cơ quan này vẫn thuộc hệ thống các cơ quan hành pháp nhưng độc lập với bộ máy hành chính. Đối với tình hình cụ thể Việt Nam, có thể thành lập các Cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu nại theo khu vực cấp vùng hoặc theo những lĩnh vực đang nổi cộm về khiếu nại như đất đai./.

Thượng úy, Ths. Chu Đại Dương
Trường Đại học An ninh nhân dân

Nguồn: thanhtravietnam.vn (16/6/2022)