Quy định về thanh tra, kiểm tra và giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) gồm 16 chương, 245 điều, trong đó giữ nguyên 28 điều; sửa đổi, bổ sung 184 điều; bổ sung mới 41 điều và bãi bỏ 8 điều. Tại Mục 2, Chương XV của Luật quy định rõ một số nội dung liên quan đến thanh tra, kiểm tra và giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai.

Trong thời gian qua, thực hiện Luật Đất đai năm 2013, bên cạnh kết quả đạt được, quá trình tổ chức thi hành Luật đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế, việc sử dụng đất còn lãng phí, hiệu quả thấp; khiếu nại, tố cáo, vi phạm pháp luật về đất đai còn diễn biến phức tạp… Những tồn tại, bất cập nêu trên có nguyên nhân do hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu phát triển của đất nước; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các quy hoạch có liên quan chưa đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ; giá đất chưa phản ánh thực tế thị trường; việc thực hiện pháp luật về đất đai có lúc, có nơi còn chưa nghiêm...

Do đó, việc sửa đổi Luật Đất đai là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đất đai có nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

Điều 233, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định, thanh tra chuyên ngành đất đai là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật về đất đai, quy định về chuyên môn, kỹ thuật, quản lý thuộc lĩnh vực đất đai.

Kiểm tra chuyên ngành đất đai là hoạt động được thực hiện thường xuyên, liên tục của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được giao nhiệm vụ quản lý đất đai nhằm đôn đốc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai; nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai.

Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đất đai trong phạm vi cả nước.

Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đất đai tại địa phương.

Thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đất đai có nhiệm vụ thanh trakiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan nhà nước, người sử dụng đất trong việc quản lý và sử dụng đất đai; đôn đốc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật đất đai; phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.

Về nội dung thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đất đai bao gồm: (1) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về đất đai của Ủy ban nhân dân các cấp; (2) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về đất đai của người sử dụng đất và của tổ chức, cá nhân khác có liên quan; (3) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực đất đai.

Báo cáo thẩm tra Dự án Luật Đất đai (sửa đổi), theo Ủy ban Kinh tế, quy định giải thích 02 thuật ngữ “thanh tra chuyên ngành đất đai” và “kiểm tra chuyên ngành đất đai”, đề nghị chuyển từ Điều 233 sang Điều 3 dự thảo Luật. Bên cạnh đó, Ủy ban Kinh tế cũng đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát quy định này cũng như các nội dung khác có liên quan đến thanh tra trong dự thảo Luật, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với Luật Thanh tra (sửa đổi).

Tranh chấp đất đai và tài sản gắn liền với đất do Tòa án nhân dân giải quyết

Theo Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở hoặc hòa giải tại Tòa án.

Khoản 2, Điều 234, Dự thảo Luật Đất đai quy định, tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

Đối với hòa giải tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và pháp luật về hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Tòa án nhân dân gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, Dự thảo Luật Đất đai (sửa dổi) quy định, tranh chấp đất đai, tranh chấp đất đai và tài sản gắn liền với đất do Tòa án nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất để làm căn cứ cho Tòa án nhân dân giải quyết theo thẩm quyền khi được yêu cầu. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan đến đất đai do Tòa án nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc do Trọng tài thương mại giải quyết theo quy định của pháp luật trọng tài thương mại.

Đây là một trong những nội dung mới của Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi. Tuy nhiên, trong báo cáo thẩm tra Dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Ủy ban Kinh tế cho rằng, quy định như vậy sẽ có sự thay đổi lớn về cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai. Ủy ban Kinh tế đề nghị cơ quan soạn thảo đánh giá kỹ lưỡng hơn về thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai qua Ủy ban nhân dân các cấp và qua Tòa án nhân dân, khả năng đáp ứng yêu cầu giải quyết tranh chấp về đất đai của hệ thống Tòa án và thực tiễn quản lý đất đai của nước ta, tác động đến quyền của người dân trong lựa chọn cách thức bảo vệ lợi ích của mình, để trên cơ sở đề xuất sửa đổi các quy định liên quan, bảo đảm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân thực hiện quyền khiếu nại, khiếu kiện khi xảy ra tranh chấp đất đai.

Người sử dụng đất có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai

Về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai, Báo cáo thẩm tra Dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Ủy ban Kinh tế nhấn mạnh, để bao quát đầy đủ các trường hợp khiếu nại, khiếu kiện, cơ quan soạn thảo cân nhắc nội dung này theo hướng kế thừa Luật Đất đai năm 2013, quy định chung và mang tính nguyên tắc: người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai; trình tự, thủ tục khiếu nại.

Theo Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định, người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Dự thảo Luật cũng quy định, cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai. Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

Việc thu thập, bảo quản, sử dụng và lưu trữ hồ sơ, tài liệu liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Ngày 14/11/2022, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành ký Nghị quyết số 150/NQ-CP ban hành Kế hoạch hoàn thiện dự án Luật Đất đai (sửa đổi).

Mục đích của Kế hoạch nhằm cụ thể hóa mục tiêu hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý và sử dụng đất đồng bộ và phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đến năm 2023 hoàn thành việc trình Quốc hội thông qua dự án Luật Đất đai (sửa đổi).

Trong kế hoạch, Chính phủ phân công các bộ chủ trì, phối hợp đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến pháp luật đất đai; xây dựng các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai. Cụ thể, Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Chính phủ ban hành trong tháng 4/2024: Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành trong tháng 4/2024 Nghị định về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

Song Tú

Nguồn: thanhtravietnam.vn (15/11/2022)